Thuốc SIRTURO được chỉ định sử dụng như một phần của phác đồ điều trị kết hợp thích hợp ở bệnh nhân người lớn và trẻ em (từ 5 tuổi đến dưới 18 tuổi và cân nặng ít nhất 15 kg) mắc bệnh lao phổi do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis kháng ít nhất rifampicin và isoniazid.
Hoạt chất Bedaquiline
Bedaquiline là một loại thuốc kháng khuẩn chống vi khuẩn lao thuộc nhóm diarylquinoline. Nhân dị vòng trung tâm quinolinic với các chuỗi bên rượu và amin chịu trách nhiệm cho hoạt tính kháng vi khuẩn lao của bedaquiline. Mặc dù có cấu trúc gần giống với fluoroquinolone, bedaquiline không ảnh hưởng đến DNA gyrase; thay vào đó, bedaquiline ức chế tiểu đơn vị c của ATP synthase chịu trách nhiệm tổng hợp ATP. Do đó, bedaquiline có thể được sử dụng để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn lao, đặc biệt là bệnh lao (TB). Mặc dù phác đồ điều trị lao tiêu chuẩn hiện nay với thuốc chống lao trong 2 tháng, bao gồm 2 loại thuốc chủ chốt là isoniazid và rifampin, rất hiệu quả, sự xuất hiện của bệnh lao kháng đa thuốc (MDR-TB) đối với isoniazid và rifampin đã làm trầm trọng thêm kết quả điều trị của bệnh nhân.
Trong một nghiên cứu chính liên quan đến người lớn mắc bệnh lao phổi kháng đa thuốc, Sirturo được so sánh với giả dược (một phương pháp điều trị không có tác dụng) khi được thêm vào phác đồ điều trị kết hợp với các loại thuốc điều trị lao tiêu chuẩn khác. Nghiên cứu cho thấy rằng sau 24 tuần, 79% bệnh nhân được dùng Sirturo (52 trong số 66 bệnh nhân) có kết quả xét nghiệm âm tính với vi khuẩn M. tuberculosis trong đờm so với 58% bệnh nhân dùng giả dược (38 trong số 66 bệnh nhân). Thời gian trung bình để loại bỏ vi khuẩn khỏi đờm cũng ngắn hơn ở những bệnh nhân được dùng Sirturo so với những bệnh nhân dùng giả dược (83 ngày so với 125 ngày).
Một nghiên cứu tiếp theo đã so sánh lợi ích của Sirturo kết hợp với các loại thuốc điều trị lao khác dùng đường uống với một phác đồ kết hợp khác bao gồm một loại thuốc điều trị lao dùng đường tiêm. Nghiên cứu cho thấy, sau 76 tuần, khoảng 82% bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ kết hợp Sirturo (162 trong số 196 bệnh nhân) có kết quả xét nghiệm âm tính với vi khuẩn lao (M. tuberculosis) trong đờm, so với 71% bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ kết hợp với thuốc tiêm (133 trong số 187 bệnh nhân).
Liều dùng, cách sử dụng thuốc Sirturo
Chỉ sử dụng SIRTURO kết hợp với các thuốc khác mà chủng vi khuẩn của bệnh nhân đã được chứng minh là nhạy cảm trong ống nghiệm, hoặc có khả năng nhạy cảm.
Bệnh nhân người lớn
- Tuần 1 đến 2: Uống 400 mg mỗi ngày một lần.
- Tuần 3 đến 24: Uống 200 mg, ba lần mỗi tuần.
Bệnh nhân nhi
Từ 15 kg trở lên đến dưới 20 kg:
- Tuần 1 đến 2: 160 mg uống mỗi ngày một lần
- Tuần 3 đến 24: 80 mg uống ba lần mỗi tuần.
Từ 20 kg trở lên đến dưới 30 kg:
- Tuần 1 đến 2: 200 mg uống một lần mỗi ngày
- Tuần 3 đến 24: 100 mg uống ba lần mỗi tuần.
Từ 30 kg trở lên:
- Tuần 1 đến 2: 400 mg uống một lần mỗi ngày
- Tuần 3 đến 24: 200 mg uống ba lần mỗi tuần.
Cách dùng thuốc
Nên uống SIRTURO cùng với thức ăn, vì uống cùng thức ăn làm tăng sinh khả dụng đường uống lên khoảng 2 lần.
Làm gì khi quên liều?
Bệnh nhân nên được khuyên dùng SIRTURO đúng theo chỉ định và hoàn thành toàn bộ liệu trình điều trị.
Nếu bỏ lỡ một liều trong hai tuần đầu điều trị, bệnh nhân không nên bù liều đã bỏ lỡ mà nên tiếp tục theo lịch dùng thuốc thông thường.
Nếu bỏ lỡ một liều từ tuần thứ ba trở đi, bệnh nhân nên uống liều đã bỏ lỡ càng sớm càng tốt và sau đó tiếp tục chế độ ba lần một tuần. Tổng liều SIRTURO trong thời gian 7 ngày không được vượt quá liều khuyến cáo hàng tuần (với khoảng cách ít nhất 24 giờ giữa mỗi lần uống).
Chống chỉ định thuốc
Quá mẫn với bất kì thành phần nào của thuốc.
Thận trọng khi dùng thuốc Sirturo
SIRTURO có thể kéo dài khoảng QT. Cần thực hiện điện tâm đồ trước khi bắt đầu điều trị bằng SIRTURO và ít nhất mỗi tháng một lần sau khi bắt đầu điều trị để theo dõi khoảng QTc. Cần xét nghiệm nồng độ kali, canxi và magiê trong huyết thanh ở thời điểm ban đầu và điều chỉnh nếu bất thường. Cần theo dõi điện giải nếu phát hiện kéo dài khoảng QT.
Tăng men gan kèm theo bilirubin toàn phần ≥ 2 lần giới hạn trên bình thường đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân người lớn và trẻ em trong quá trình sử dụng SIRTURO với phác đồ điều trị nền. Bệnh nhân cần được theo dõi trong suốt quá trình điều trị, vì sự tăng men gan xuất hiện chậm và tăng dần trong 24 tuần. Theo dõi các triệu chứng và xét nghiệm (ALT, AST, phosphatase kiềm và bilirubin) ở thời điểm ban đầu, hàng tháng trong quá trình điều trị và khi cần thiết. Nếu AST hoặc ALT vượt quá 5 lần giới hạn trên bình thường thì cần xem xét lại phác đồ điều trị và ngừng sử dụng SIRTURO và/hoặc bất kỳ thuốc nào gây độc cho gan trong phác đồ điều trị nền.
Ở thanh thiếu niên có cân nặng từ 30 đến 40 kg, mức độ phơi nhiễm trung bình được dự đoán là cao hơn so với bệnh nhân người lớn. Điều này có thể liên quan đến nguy cơ kéo dài khoảng QT hoặc độc tính gan cao hơn.
Có thể sử dụng Sirturo cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú không?
Dữ liệu về việc sử dụng SIRTURO ở phụ nữ mang thai còn hạn chế. Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra tác dụng có hại trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến độc tính sinh sản. Để phòng ngừa, nên tránh sử dụng SIRTURO trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích của liệu pháp được coi là lớn hơn rủi ro.
Bedaquiline được bài tiết vào sữa mẹ. Hậu quả lâm sàng của phơi nhiễm này chưa được biết. Phụ nữ được điều trị bằng bedaquiline không nên cho con bú.
Tương tác thuốc quan trọng
Trong một nghiên cứu tương tác giữa bedaquiline liều đơn và rifampicin dùng một lần mỗi ngày (chất cảm ứng mạnh) ở người lớn khỏe mạnh, nồng độ bedaquiline trong máu (AUC) giảm 52% [khoảng tin cậy 90% (-57; -46)]. Do khả năng giảm hiệu quả điều trị của bedaquiline do giảm nồng độ thuốc trong máu, nên cần tránh dùng đồng thời bedaquiline với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh hoặc trung bình (ví dụ: efavirenz, etravirine, rifamycin bao gồm rifampicin, rifapentine và rifabutin, carbamazepine, phenytoin, cây Hypericum perforatum) dùng toàn thân.
Việc dùng đồng thời SIRTURO và các chất ức chế CYP3A4 không có tác dụng đáng kể về mặt lâm sàng đối với nồng độ bedaquiline trong cơ thể. Do đó, việc dùng đồng thời SIRTURO và các chất ức chế CYP3A4 được cho phép và không cần điều chỉnh liều.
Việc dùng đồng thời bedaquiline và ketoconazole (chất ức chế CYP3A4 mạnh) trong thời gian ngắn ở người lớn khỏe mạnh làm tăng nồng độ bedaquiline trung bình (AUC) lên 22% [khoảng tin cậy 90% (12; 32)]. Ở người lớn khỏe mạnh, việc dùng đồng thời clarithromycin, một chất ức chế CYP3A4 mạnh khác, với liều đơn bedaquiline trong 10 ngày làm tăng nồng độ bedaquiline trung bình (AUC) lên 14% [khoảng tin cậy 90% (9; 19)]. Tác dụng rõ rệt hơn đối với bedaquiline có thể được quan sát thấy trong trường hợp dùng đồng thời các chất ức chế CYP3A4 kéo dài.
Việc sử dụng đồng thời SIRTURO trong thời gian ngắn với isoniazid/pyrazinamide ở người lớn khỏe mạnh không dẫn đến những thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về mức độ phơi nhiễm (AUC) với bedaquiline, isoniazid hoặc pyrazinamide. Không cần điều chỉnh liều isoniazid hoặc pyrazinamide khi sử dụng đồng thời với SIRTURO.
Tác dụng phụ khi dùng thuốc Sirturo
Các phản ứng bất lợi của SIRTURO được xác định từ dữ liệu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn IIb (cả có đối chứng và không đối chứng, C208 và C209) trên 335 bệnh nhân trưởng thành được điều trị bằng SIRTURO trong 8 tuần hoặc 24 tuần. Không có phản ứng bất lợi mới nào được xác định trong thử nghiệm giai đoạn III có đối chứng bao gồm 354 bệnh nhân được điều trị bằng SIRTURO trong 40 tuần hoặc 28 tuần. Trong các nghiên cứu này, bệnh nhân được điều trị bằng SIRTURO kết hợp với các thuốc kháng khuẩn khác.
Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất (>10,0% bệnh nhân) được báo cáo trong quá trình điều trị bằng SIRTURO trong thử nghiệm giai đoạn III nhãn mở là kéo dài khoảng QT (61% ở nhóm SIRTURO so với 56% ở nhóm đối chứng), buồn nôn (54% so với 63%), nôn mửa (54% so với 62%), đau khớp (45% so với 33%), tăng men gan (30% so với 29%), chóng mặt (18% so với 21%) và đau đầu (17% so với 18%).
Đánh giá về thuốc Sirturo
Sirturo chỉ được bán theo đơn thuốc. Việc điều trị cần được bắt đầu và theo dõi bởi bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh lao kháng thuốc, ít nhất là với isoniazid và rifampicin. Ngoài ra, nên có nhân viên y tế theo dõi bệnh nhân trong suốt quá trình dùng thuốc.
Nghiên cứu chính cho thấy Sirturo làm tăng số lượng bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính với vi khuẩn lao và rút ngắn thời gian trung bình để loại bỏ vi khuẩn khỏi đờm. Hơn nữa, Sirturo là loại thuốc đầu tiên thuộc nhóm thuốc mới mà chưa từng xảy ra hiện tượng kháng chéo. Kháng chéo là tình trạng vi khuẩn kháng một loại thuốc cũng kháng một loại thuốc khác chưa từng được sử dụng trước đó, điều này thường xảy ra với bệnh lao kháng đa thuốc. Sirturo được chứng minh là được chuyển hóa trong cơ thể trẻ em giống như ở người lớn; do đó, thuốc này được kỳ vọng sẽ hiệu quả trong điều trị bệnh lao kháng đa thuốc ở trẻ em.



Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.